Luật Chứng khoán Kỳ vọng nâng tầm thị trường chứng khoán

Luật Chứng khoán được ban hành năm  Sau 4 năm Chính phủ đã trình Quốc hội bổ sung, sửa đổi một số điều của Luật này. Trên cơ sở Luật Chứng khoán được sửa đổi, bổ sung năm

Xem thêm:    Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với thông tin

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quyết định và Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thực hiện. Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo lập khung khổ pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ điều chỉnh toàn diện hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK). TTCK ngày càng trở thành kênh thu hút vốn đầu tư trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; giảm khoảng cách chênh lệch giữa kênh tín dụng ngân hàng với kênh thị trường vốn,

nhằm tăng cường vốn đầu tư xã hội.

Nếu như năm 2006, TTCK chỉ có khoảng 200 công ty niêm yết với giá trị vốn hóa khoảng 221 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 22,7% GDP năm 2006), thì đến cuối năm 2019 đã có 1.622 công ty niêm yết và đăng ký giao dịch với giá trị vốn hóa thị trường đạt khoảng 4.384 nghìn tỷ đồng (tương đương 72,6% GDP năm 2019). Giá trị huy động vốn của doanh nghiệp

thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp năm đạt 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với cả năm 2018. Giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 36,6 tỷ USD (tương đương 847.033 tỷ đồng). TTCK đã hỗ trợ cho việc thực hiện công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được thuận lợi hơn và ngày càng công khai, minh bạch, góp phần thực

hiện chủ trương tái cơ cấu lại DNNN.

Các khu vực thị trường đã được hình thành, bao gồm thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và TTCK phái sinh. Tính thanh khoản thị trường được cải thiện rõ rệt qua những năm gần đây. Trong năm 2019, tổng giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân đạt 4.659 tỷ đồng/phiên, giảm 28,8% so với bình quân năm 2018. Tổng giá trị giao dịch trái phiếu bình quân đạt hơn 9.000 tỷ đồng/phiên, tăng 4% so với bình quân năm 2018, trong đó giao dịch repo chiếm gần 50% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường. khối lượng giao dịch bình quân đạt 88.707 hợp đồng/phiên,

tăng 13% so với bình quân giao dịch năm 2018 và gấp gần 10 lần so với năm

Hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán đã có sự phát triển cả về năng lực chuyên môn nghiệp vụ và năng lực tài chính; cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng cường kiểm tra, kiểm soát tính tuân thủ của khách hàng và quản trị rủi ro trong quá trình hoạt động. Thành phần nhà đầu tư ngày càng đa dạng. Số lượng nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư cá nhân liên tục tăng. Đến nay, số lượng tài khoản nhà đầu tư trong và

ngoài nước tăng hơn 20 lần so với năm

Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK ngày càng được nâng cao. Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động của thị trường, về cơ bản đã bảo đảm TTCK hoạt động lành mạnh và an toàn, bám sát mục tiêu, chính sách của Chính phủ,

hỗ trợ sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trên, hoạt động của TTCK Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập như: Chất lượng các công ty niêm yết, công ty chứng khoán còn thấp, thành phần nhà đầu tư tham gia TTCK chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức (các quỹ đầu tư) chưa nhiều; Việc thực hiện công bố thông tin, quản trị công ty theo thông lệ tốt qua 10 năm thực thi Luật đã có sự tiến bộ đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một TTCK phát triển. Trong thời gian qua, các sở giao dịch chứng khoán (SGDCK),

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam đã có nhiều cải tiến trong phương thức hoạt động, tuy nhiên với quy mô thị trường ngày càng lớn, số lượng công ty niêm yết, các nhà đầu tư ngày càng nhiều thì việc hoàn thiện hệ thống tổ chức thị trường giao dịch, đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán là cần thiết, tạo khả năng liên thông với các TTCK trong khu vực và quốc tế để thu hút

vốn đầu tư trong nước, nước ngoài.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tồn tại, hạn chế trên là do khung khổ pháp lý về chứng khoán và TTCK chưa hoàn thiện. Nội dung một số điều khoản của Luật còn chưa rõ ràng, cụ thể, dẫn đến cách hiểu khác nhau và gây khó khăn trong áp dụng; một số điều khoản của Luật không còn hợp lý hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; Luật chưa quy định một số vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi, chưa tương thích với thông lệ quốc tế, chưa phù hợp với yêu cầu và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể như:

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *